Hiển thị các bài đăng có nhãn Đá quý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đá quý. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012
Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012
Đá Thạch Anh Vàng
Thạch anh vàng (Citrine) tượng trưng cho tài lộc phú quý nên được gọi là viên đá kinh doanh, thường được các chủ kinh doanh để ngay tại bàn làm việc hay quầy thu ngân để thu hút may mắn tài lộc.
Tên Đá: Thạch anh vàng (Citrine)
Công thức : Sio2
Độ cứng theo thang: 7.0 Mohs
Khối lượng riêng : 2.6g/cm3
Hệ tinh thể ba phương
Ánh thuỷ tinh
Lịch sử và truyền thuyết:
Tên của đá quý này (citrine) có nguồn gốc từ tiếng Pháp citron là quả chanh, vì thạch anh vàng phần lớn có màu của quả chanh tây.
Thời xưa, người ta đeo thạch anh vàng để chống lại nọc rắn độc và quỷ ám.
Đôi khi bạn nghe người ta gọi nhầm thạch anh vàng là thạch anh topaz. Vì topaz là một loại khoáng vật khác hẳn, nên ngành kỹ nghệ buộc phải loại bỏ tên này.
Giống như topaz, thạch anh vàng là một trong số đá mừng sinh nhật trong tháng 11 ở Mỹ.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Citrine là loại thạch anh trong suốt, có màu từ vàng, vàng mật ong đến nâu cam. Mặc dù loại thạch anh vàng có màu nâu cam sẫm đến màu cam hơi đỏ, tên gọi là citrine Madeira, từ trước đến nay là có giá trị cao nhất, nhưng sau này loại có màu vàng chanh sáng lại được ưa chuộng hơn.
Thạch anh vàng thường rẻ hơn thạch anh tím, là loại cùng nhóm với nó. Giống như tất cả loại thạch anh, thạch anh vàng cũng khá phổ biến và đủ loại kích cỡ và hình dáng, kể cả kích thước cực lớn. Người ta cũng hay dùng thạch anh để cắt mài và chạm trổ tùy thích.
Nguồn gốc:
Hầu hết thạch anh vàng được khai thác ở Brazin, đặc biệt là ở bang Rio Grande do Sul. Nó cũng được khai thác nhiều ở Bolivia.
Tính chất chữa bệnh:
Trong thực hành yoga chữa bệnh, xitrin được coi là loại đá kích thích đám rối dương và hoạt động của ống tiêu hoá .Thời cổ đại nguời ta tin rằng, xitrin giúp bảo vệ tránh được rắn độc cắn. Xitrin có tác động trong điều trị bệnh viêm dạ dầy ,việm thận - bể thận ,việm bàng quang. Xitrin tác động tốt tới não bộ và tích luỹ trong cơ thể năng lượng sống . Đặc biệt vớI các rung động của mình xitrin tạo ra xung quanh cơ thể con người aura (linh gác ) bảo vệ , che trở cho con người khỏicác tác động bất lợi từ bên ngoài .
Tính chất mầu nhiệm
Xitrin từ lâu đã được coi là đá của sự thông thái và yên bình , có khả năng cứu con người ra khỏi tình trạng trầm uất . Ở La Mã cổ đại ,các vị nguyên lão thưòng đeo bên mình những tinh thể xitrin , vì họ cho rằng những viên đá này giúp họ có khả năng hung biện và giúp củng cố trí nhớ .Người ta cũng tin rằng xitrin giúp con ngườI có khả năng hểu nhâu hơn và củng cố những liên hệ tâm lý giữa con người với nhau .Xitrin giúp những nhân viên môi giớI và chào hàng có đuợc những lợI ích từ những hợp đồng có được .
Ảnh hưởng tới luân xa (Cảm xạ học)
Đối với luân xa vùng rốn: kiểm soát ruột , thận và hệ tiết niệu - sinh dục ; luân xa tương ứng với tình yêu khác giới và sự thoả mãn trong tình cảm ,tình dục .Dự trữ năng lượng tình dục tập trung ở luân xa này .
Đối với luân xa vùng đám rối dương: Có ảnh hưởng tới lá gan ,lá lách và các cơ quan khác của hệ tiêu hoá .Luân xa này có liên quan tới lý trí , điều khiển cảm xúc và trí tưởng tượng .
Năng lượng cảm thụ của Âm
+ Cung hoàng đạo
+ Cung Song Tử
Tên gọi khác biến thể :
+ Topa Tây Ban Nha
+ Topa vàng ánh kim
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Phần lớn thạch anh vàng trên thị trường có nguồn gốc là thạch anh tím được nung nhiệt để chuyển thành màu vàng kim.
Bảo quản và làm sạch:
Thạch anh vàng có độ cứng 7 trên thang Mohs. Nó vững bền và có thể đeo hàng ngày.
Rửa thạch anh vàng với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi co thể dính chất dơ.
Không nên để nữ trang thạch anh vàng dưới nhiệt và ánh sáng mạnh trong thời gian lâu.
Xem thêm: Trang suc da thach anh vang
Chùm vỉa Đá Thạch Anh Vàng
Giá Bán : Từ 1200.000 VND/kg trở lên .
Giá Bán : Từ 1200.000 VND/kg trở lên .
Xem: Gia Da thach Anh
Xuất xứ: Braxin.
Điện thoại: 0904.569.723 (vui lòng liên hệ trước khi đến)
Địa chỉ : Số 8 - Ngõ 119 - Trung Kính - Cầu Giấy - Hà Nội
Điện thoại: 0904.569.723 (vui lòng liên hệ trước khi đến)
Địa chỉ : Số 8 - Ngõ 119 - Trung Kính - Cầu Giấy - Hà Nội
Công thức : Sio2
Độ cứng theo thang: 7.0 Mohs
Khối lượng riêng : 2.6g/cm3
Hệ tinh thể ba phương
Ánh thuỷ tinh
Lịch sử và truyền thuyết:
Tên của đá quý này (citrine) có nguồn gốc từ tiếng Pháp citron là quả chanh, vì thạch anh vàng phần lớn có màu của quả chanh tây.
Thời xưa, người ta đeo thạch anh vàng để chống lại nọc rắn độc và quỷ ám.
Đôi khi bạn nghe người ta gọi nhầm thạch anh vàng là thạch anh topaz. Vì topaz là một loại khoáng vật khác hẳn, nên ngành kỹ nghệ buộc phải loại bỏ tên này.
Giống như topaz, thạch anh vàng là một trong số đá mừng sinh nhật trong tháng 11 ở Mỹ.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Citrine là loại thạch anh trong suốt, có màu từ vàng, vàng mật ong đến nâu cam. Mặc dù loại thạch anh vàng có màu nâu cam sẫm đến màu cam hơi đỏ, tên gọi là citrine Madeira, từ trước đến nay là có giá trị cao nhất, nhưng sau này loại có màu vàng chanh sáng lại được ưa chuộng hơn.
Nguồn gốc:
Tính chất chữa bệnh:
Trong thực hành yoga chữa bệnh, xitrin được coi là loại đá kích thích đám rối dương và hoạt động của ống tiêu hoá .Thời cổ đại nguời ta tin rằng, xitrin giúp bảo vệ tránh được rắn độc cắn. Xitrin có tác động trong điều trị bệnh viêm dạ dầy ,việm thận - bể thận ,việm bàng quang. Xitrin tác động tốt tới não bộ và tích luỹ trong cơ thể năng lượng sống . Đặc biệt vớI các rung động của mình xitrin tạo ra xung quanh cơ thể con người aura (linh gác ) bảo vệ , che trở cho con người khỏicác tác động bất lợi từ bên ngoài .
Tính chất mầu nhiệm
Xitrin từ lâu đã được coi là đá của sự thông thái và yên bình , có khả năng cứu con người ra khỏi tình trạng trầm uất . Ở La Mã cổ đại ,các vị nguyên lão thưòng đeo bên mình những tinh thể xitrin , vì họ cho rằng những viên đá này giúp họ có khả năng hung biện và giúp củng cố trí nhớ .Người ta cũng tin rằng xitrin giúp con ngườI có khả năng hểu nhâu hơn và củng cố những liên hệ tâm lý giữa con người với nhau .Xitrin giúp những nhân viên môi giớI và chào hàng có đuợc những lợI ích từ những hợp đồng có được .
Ảnh hưởng tới luân xa (Cảm xạ học)
Đối với luân xa vùng rốn: kiểm soát ruột , thận và hệ tiết niệu - sinh dục ; luân xa tương ứng với tình yêu khác giới và sự thoả mãn trong tình cảm ,tình dục .Dự trữ năng lượng tình dục tập trung ở luân xa này .
Đối với luân xa vùng đám rối dương: Có ảnh hưởng tới lá gan ,lá lách và các cơ quan khác của hệ tiêu hoá .Luân xa này có liên quan tới lý trí , điều khiển cảm xúc và trí tưởng tượng .
Năng lượng cảm thụ của Âm
+ Cung hoàng đạo
+ Cung Song Tử
Tên gọi khác biến thể :
+ Topa Tây Ban Nha
+ Topa vàng ánh kim
Phần lớn thạch anh vàng trên thị trường có nguồn gốc là thạch anh tím được nung nhiệt để chuyển thành màu vàng kim.
Bảo quản và làm sạch:
Thạch anh vàng có độ cứng 7 trên thang Mohs. Nó vững bền và có thể đeo hàng ngày.
Rửa thạch anh vàng với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi co thể dính chất dơ.
Không nên để nữ trang thạch anh vàng dưới nhiệt và ánh sáng mạnh trong thời gian lâu.
Xem thêm: Trang suc da thach anh vang
Video Da Thach Anh Vang
Đá Granet
Mặc dù nhiều người thường nghĩ granet có màu đỏ sẫm, nhưng thực tế thì nó có nhiều màu khác nữa, như màu cam, lục sáng và nhiều màu khác ngoại trừ màu xanh. Garnet đáp ứng mọi sở thích và túi tiền: như với garnet tsavorite màu lục tươi thì giá mỗi carat có thể đến hàng ngàn đô la, còn garnet màu đỏ là một trong các đá quý thông dụng nhất.
Lịch sử và truyền thuyết:
Đã từ lâu, du khách thường mang theo garnet bên mình để phòng ngừa tai nạn. Các nhà thần bí xưa kia tin rằng đeo garnet sẽ không gặp ác mộng.
Hàng thế kỷ trước, ở châu Á, người ta đã cho một chút garnet đỏ vào đạn để làm tăng tính sát thương.
Trong thế giới cổ đại, garnet màu nâu đỏ được gọi là đá màu đỏ hình tròn (carbuncle). Các học giả nghĩ rằng tên garnet bắt nguồn từ tiếng La Tinh dùng để chỉ quả lựu (Punica granatum): trong nhiều nữ trang cổ, các hạt nhỏ đá màu đỏ đã được gắn chung để làm cho giống đám hạt lựu.
Ở Mỹ, garnet là đá mừng sinh nhật trong tháng 1.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Garnet gồm những loại như Rhodolite màu đỏ phớt tím, Tsavorite và Demantoid màu lục, Spessartite mandarin và Malaya màu cam.
Tính phổ biến phụ thuộc mỗi loại: Tsavorite rất khó có cỡ trên 1 hay 2 carat, còn Rhodolite có nhiều cỡ lớn.
Giá cũng phụ thuộc mỗi loại: Tsavorite và Demantoid đẹp thường có giá hàng ngàn đô la mỗi carat. Rhodolite màu hồng tím đẹp và Mandarin, Malaya có giá hàng trăm đô la. Almandine màu đỏ tối là một trong những đá quý giá rẻ nhất, cỡ vài đô la mỗi carat.
Những nhà sưu tập luôn tìm kiếm các bộ nữ trang thuộc nữ hoàng Victoria có các đá màu lục sáng. Chúng có thể là đá garnet demantoid có giá trị và hiếm, là loại đá quý màu lục được ưa thích vào thời ấy.
Garnet thường được cắt mài theo hình tròn, ovan và hình nệm.
Nguồn gốc:
Đông châu Phi có một loạt đá garnet với màu đẹp nhất. Kenya và Tanzania có những garnet mà không nơi nào có, đó là Tsavorite màu lục phớt vàng và Malaya màu cam.
Madagasca, Mali và Namibia cũng có nhiều loại garnet, đáng kể như Namibia sản xuất loại garnet mandarin màu cam mạnh, cũng như một số garnet demantoid.
Nguồn demantoid nổi tiếng nhất là Nga tuy nhiên việc sản xuất còn hạn chế.
Ấn độ, Thái Lan, Sri Lanka, Nam Phi và Mỹ cũng là nguồn garnet.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Chưa thấy xử lý nào ở garnet.
Bảo quản và làm sạch:
Loại đá chiếu sáng và bền này thì dễ bảo quản, có độ cứng từ 7,25 đến 7,5 của thang Mohs.
Rửa garnet bằng xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải đánh răng chà phía sau viên đá khi dính bụi.
Lịch sử và truyền thuyết:
Đã từ lâu, du khách thường mang theo garnet bên mình để phòng ngừa tai nạn. Các nhà thần bí xưa kia tin rằng đeo garnet sẽ không gặp ác mộng.
Hàng thế kỷ trước, ở châu Á, người ta đã cho một chút garnet đỏ vào đạn để làm tăng tính sát thương.
Trong thế giới cổ đại, garnet màu nâu đỏ được gọi là đá màu đỏ hình tròn (carbuncle). Các học giả nghĩ rằng tên garnet bắt nguồn từ tiếng La Tinh dùng để chỉ quả lựu (Punica granatum): trong nhiều nữ trang cổ, các hạt nhỏ đá màu đỏ đã được gắn chung để làm cho giống đám hạt lựu.
Ở Mỹ, garnet là đá mừng sinh nhật trong tháng 1.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Garnet gồm những loại như Rhodolite màu đỏ phớt tím, Tsavorite và Demantoid màu lục, Spessartite mandarin và Malaya màu cam.
Tính phổ biến phụ thuộc mỗi loại: Tsavorite rất khó có cỡ trên 1 hay 2 carat, còn Rhodolite có nhiều cỡ lớn.
Giá cũng phụ thuộc mỗi loại: Tsavorite và Demantoid đẹp thường có giá hàng ngàn đô la mỗi carat. Rhodolite màu hồng tím đẹp và Mandarin, Malaya có giá hàng trăm đô la. Almandine màu đỏ tối là một trong những đá quý giá rẻ nhất, cỡ vài đô la mỗi carat.
Những nhà sưu tập luôn tìm kiếm các bộ nữ trang thuộc nữ hoàng Victoria có các đá màu lục sáng. Chúng có thể là đá garnet demantoid có giá trị và hiếm, là loại đá quý màu lục được ưa thích vào thời ấy.
Garnet thường được cắt mài theo hình tròn, ovan và hình nệm.
Nguồn gốc:
Đông châu Phi có một loạt đá garnet với màu đẹp nhất. Kenya và Tanzania có những garnet mà không nơi nào có, đó là Tsavorite màu lục phớt vàng và Malaya màu cam.
Madagasca, Mali và Namibia cũng có nhiều loại garnet, đáng kể như Namibia sản xuất loại garnet mandarin màu cam mạnh, cũng như một số garnet demantoid.
Nguồn demantoid nổi tiếng nhất là Nga tuy nhiên việc sản xuất còn hạn chế.
Ấn độ, Thái Lan, Sri Lanka, Nam Phi và Mỹ cũng là nguồn garnet.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Chưa thấy xử lý nào ở garnet.
Bảo quản và làm sạch:
Loại đá chiếu sáng và bền này thì dễ bảo quản, có độ cứng từ 7,25 đến 7,5 của thang Mohs.
Rửa garnet bằng xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải đánh răng chà phía sau viên đá khi dính bụi.
Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012
Đá Saphia
Người Việt còn gọi saphia là lam ngọc. Do có vẻ quý phái và lãng mạn, saphia là biểu tượng của lòng trung thành và tâm hồn. Saphia bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp sappheiros, nghĩa là màu xanh và saphia có được màu xanh đẹp nhất trong các loại đá quý. Tuy nhiên saphia cũng có các màu khác ngoại trừ màu đỏ của ruby, là đá cùng loại với saphia. Cả hai đều là khoáng corundum cứng chắc và vững bền.
Lịch sử và truyền thuyết:
Người Ba Tư cổ (nay là Iran) tin rằng trái đất nằm tựa vào khối đá saphia khổng lồ. Họ nói là sự phản chiếu của saphia làm cho bầu trời có màu xanh.
Nhờ tính lãng mạn và quý phái, Thái tử Charles đã tặng cho Công nương Diana một nhẫn cưới gắn saphia.
Saphia là đá quý của lòng trung thành và tâm hồn. Thời xa xưa, người ta tặng saphia để tỏ lòng trung thành, trung thực và trong trắng.
Saphia là đá mừng sinh nhật trong tháng 9 ở Mỹ.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Saphia có giá trị nhất thì màu xanh – màu xanh đẹp nhất là xanh mạnh tươi. Các đá xanh mạnh vừa thì được ưa thích hơn màu xanh biển sẫm hay xanh nhạt. Xanh hơi tím nhẹ thì đẹp hơn xanh phớt lục nhẹ.
Nổi tiếng nhất là tông màu xanh, saphia còn có các màu khác ngoại trừ màu đỏ.
Đá saphia màu khác xanh có giá trị là cam phớt hồng đến hồng phớt cam, được gọi là padparadscha, theo tiếng Sinhal của người Sri Lanka thì có nghĩa là đá màu hoa sen. Từ này hay bị lạm dụng vì đá nào có tên này sẽ có giá cao hơn một chút.
Saphia thường được cắt mài theo hình ovan và nệm. Những kiểu khác như tròn, emerald, vuông, chữ nhật, hình tam giác thì có nhiều ở cỡ dưới 1 carat.
Saphia đẹp thường rẻ hơn so với ruby, emerald và kim cương đẹp.
Nguồn gốc:

Tất cả saphia đủ màu đã được khai thác ở Sri Lanka (trước kia gọi là Ceylon -Tích Lan), một số nhà buôn đá quý vẫn dùng từ “ceylon” để nói về saphia của đảo quốc này.
Các nhà sưu tập đánh giá cao saphia xanh đẹp ở Kashmir và Myanmar vì tính hiếm có của chúng.
Mấy năm nay, Madagasca trở thành nguồn cung cấp quan trọng saphia xanh, hồng và những màu khác. Tanzania và Kenya cũng sản xuất một lượng lớn saphia nhiều màu.
Việt Nam, Campuchia, Lào, Úc, Mỹ cũng khai thác saphia. Thái Lan là trung tâm mua bán, cắt mài và xử lý saphia.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Hầu hết saphia đều được xử lý nhiệt để tăng màu xanh tối đa do phân hủy các bao thể chứa titan. Đôi khi saphia tối màu cũng được làm sáng màu nhờ nung nhiệt.
Saphia màu khác xanh cũng được nung nhiệt để có màu đẹp nhất. Một số saphia được nung nhiệt vừa cải thiện màu và cải thiện độ trong. Saphia cải thiện bằng nhiệt là phổ biến và vững bền, không cần chăm sóc đặc biệt.
Một phương pháp xử lý phát triển gần đây là xử lý khuếch tán beryl, trong đó các đá saphia không màu, hồng nhạt hay màu vàng được nung nhiệt chung với khoáng beryl hay chrysoberyl, nguyên tố berylium từ các khoáng ấy sẽ thẩm thấu vào bề mặt đá saphia. Điều này giúp làm tăng màu vàng cho đá: saphia màu hồng sẽ thành cam, vàng nhạt thành vàng đậm. Nguyên tố thêm vào và màu do nó tạo ra chỉ ở một lớp mỏng trên bề mặt đá, tuy nhiên trong một số trường hợp, nó giúp tạo nên màu đậm hơn trên toàn bộ viên đá. Xử lý khuếch tán phải được công bố trên hóa đơn. Để xác định được xử lý này cần phải có các phòng xét nghiệm ngọc học hiện đại như GIA. Do đó khi mua saphia ở những nguồn không rõ ràng thì phải cẩn thận.
Bảo quản và làm sạch:
Giống như đá ruby cùng loại, saphia cũng là khoáng corundum, nên có độ cứng là 9 trên thang Mohs. Corundum rất cứng chắc nên thường dùng làm chất mài mòn. Do đó saphia cũng là một trong những đá quý vững bền nhất.
Rửa spahia với xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi có thể dính nhiều chất bẩn.
Saphia Sri Lanka
Người Ba Tư cổ (nay là Iran) tin rằng trái đất nằm tựa vào khối đá saphia khổng lồ. Họ nói là sự phản chiếu của saphia làm cho bầu trời có màu xanh.
Nhờ tính lãng mạn và quý phái, Thái tử Charles đã tặng cho Công nương Diana một nhẫn cưới gắn saphia.
Saphia là đá quý của lòng trung thành và tâm hồn. Thời xa xưa, người ta tặng saphia để tỏ lòng trung thành, trung thực và trong trắng.
Saphia là đá mừng sinh nhật trong tháng 9 ở Mỹ.
Saphia Vietnamgem.net
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Saphia có giá trị nhất thì màu xanh – màu xanh đẹp nhất là xanh mạnh tươi. Các đá xanh mạnh vừa thì được ưa thích hơn màu xanh biển sẫm hay xanh nhạt. Xanh hơi tím nhẹ thì đẹp hơn xanh phớt lục nhẹ.
Nổi tiếng nhất là tông màu xanh, saphia còn có các màu khác ngoại trừ màu đỏ.
Đá saphia màu khác xanh có giá trị là cam phớt hồng đến hồng phớt cam, được gọi là padparadscha, theo tiếng Sinhal của người Sri Lanka thì có nghĩa là đá màu hoa sen. Từ này hay bị lạm dụng vì đá nào có tên này sẽ có giá cao hơn một chút.
Saphia thường được cắt mài theo hình ovan và nệm. Những kiểu khác như tròn, emerald, vuông, chữ nhật, hình tam giác thì có nhiều ở cỡ dưới 1 carat.
Saphia đẹp thường rẻ hơn so với ruby, emerald và kim cương đẹp.
Nguồn gốc:
Bảng phân bố đá Saphia
Các nhà sưu tập đánh giá cao saphia xanh đẹp ở Kashmir và Myanmar vì tính hiếm có của chúng.
Mấy năm nay, Madagasca trở thành nguồn cung cấp quan trọng saphia xanh, hồng và những màu khác. Tanzania và Kenya cũng sản xuất một lượng lớn saphia nhiều màu.
Việt Nam, Campuchia, Lào, Úc, Mỹ cũng khai thác saphia. Thái Lan là trung tâm mua bán, cắt mài và xử lý saphia.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Hầu hết saphia đều được xử lý nhiệt để tăng màu xanh tối đa do phân hủy các bao thể chứa titan. Đôi khi saphia tối màu cũng được làm sáng màu nhờ nung nhiệt.
Saphia màu khác xanh cũng được nung nhiệt để có màu đẹp nhất. Một số saphia được nung nhiệt vừa cải thiện màu và cải thiện độ trong. Saphia cải thiện bằng nhiệt là phổ biến và vững bền, không cần chăm sóc đặc biệt.
Một phương pháp xử lý phát triển gần đây là xử lý khuếch tán beryl, trong đó các đá saphia không màu, hồng nhạt hay màu vàng được nung nhiệt chung với khoáng beryl hay chrysoberyl, nguyên tố berylium từ các khoáng ấy sẽ thẩm thấu vào bề mặt đá saphia. Điều này giúp làm tăng màu vàng cho đá: saphia màu hồng sẽ thành cam, vàng nhạt thành vàng đậm. Nguyên tố thêm vào và màu do nó tạo ra chỉ ở một lớp mỏng trên bề mặt đá, tuy nhiên trong một số trường hợp, nó giúp tạo nên màu đậm hơn trên toàn bộ viên đá. Xử lý khuếch tán phải được công bố trên hóa đơn. Để xác định được xử lý này cần phải có các phòng xét nghiệm ngọc học hiện đại như GIA. Do đó khi mua saphia ở những nguồn không rõ ràng thì phải cẩn thận.
Bảo quản và làm sạch:
Giống như đá ruby cùng loại, saphia cũng là khoáng corundum, nên có độ cứng là 9 trên thang Mohs. Corundum rất cứng chắc nên thường dùng làm chất mài mòn. Do đó saphia cũng là một trong những đá quý vững bền nhất.
Rửa spahia với xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi có thể dính nhiều chất bẩn.
Đá Opal
Do có hiệu ứng lóe màu sặc sỡ (màu cầu vồng) nên viên đá opal có các màu của những loại đá quý khác gộp lại. Hiệu ứng lóe màu sặc sỡ được tạo ra do nhiễu xạ bên trong đá: các cầu thể li ti nằm trong đá làm tách ánh sáng thành các màu phổ tán sắc ngời sáng, giống hệt hiện tượng màu sặc sỡ do các rãnh cực nhỏ trên các đĩa CD gây ra.
Lịch sử và truyền thuyết:
Opal bắt nguồn từ tiếng La Mã opalus, diễn tả một vẻ đẹp đặc biệt của loại đá quý này: có màu sặc sỡ.
Opal là một báu vật trong thời Trung Cổ và người Hy Lạp gọi là ophthalmios, nghĩa là đá mắt, do nhiều người tin rằng đá này giúp tăng thị lực. Một số khác lại nghĩ rằng opal giúp cho người đeo nó có thể trở nên vô hình. Có người còn cho là opal giúp giữ tóc màu vàng không bị bạc.
Opal là những đá chính trên các trang sức của vương triều Pháp. Vua Napoleon đã tặng cho hoàng hậu Josephine một viên opal đẹp sáng màu đỏ tươi, có tên là “Cháy Đỏ Thành Troy”.
Vào thế kỷ 19, opal bị xem là vật xui xuất phát từ một tiểu thuyết nổi tiếng một thời của nhà văn người Scotland là ngài Walter Scott. Trong truyện, nữ nhân vật chính gắn sức sống dựa vào viên đá opal xinh đẹp mà cô ấy cài trên mái tóc và khi viên opal mất đi ánh lửa thì cô gái cũng qua đời.
Opal là một trong các đá mừng sinh nhật trong tháng 10 ở Mỹ.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Khi định giá opal, các chuyên gia bắt đầu với màu nền của đá. Được ưa thích nhất là khi màu nền chung của đá thì sẫm và có lóe màu sặc sỡ.
Opal có giá trị nhất khi có màu nền xám sẫm đến đen và được gọi là opal đen. Opal có màu nền là trắng hay màu nhạt thì gọi là opal trắng, loại này có nhiều hơn và giá rẻ. Opal từ trong mờ đến trong suốt được gọi là opal tinh thể, giá trị của nó ở giữa 2 loại trên.
Sau màu nền, giá trị opal dựa vào mức độ và sự phân bố các màu sặc sỡ. Đẹp nhất là khi có tất cả các màu sặc sỡ phủ hết bề mặt viên đá, kể cả màu đỏ. Tuy nhiên opal là một trong các loại đá quý thể hiện tính riêng tư nhất, phụ thuộc vào sở thích của từng người.
Nguồn gốc:
Nguồn opal quan trọng nhất là Úc vì là nơi sản xuất opal nhiều nhất và đẹp nhất. Địa phương nổi tiếng có opal đen là Lightning Ridge.
Opal lửa là opal gốc núi lửa, trong suốt, có màu vàng sáng đến đỏ, được khai thác ở Mexico, thường được mài giác. Opal lửa hiếm khi thể hiện lóe màu sặc sỡ.
Opal lửa cũng có ở bang Oregon, Mỹ.
Người ta hay mài opal theo dạng ovan cabochon. Opal trắng thường được mài theo kích cỡ quy định, còn opal đen nào có giá trị sẽ được mài theo hình dáng để làm sao cho lóe màu sặc sỡ tối đa mặc dù dạng ovan là được ưa thích hơn cả.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Các phương pháp xử lý opal được dùng nhiều nhất là làm tối đá màu nhạt để cho giống opal đen. Phương pháp nhuộm là làm cho màu nhuộm thấm vào trong cấu trúc rỗng để đá có được màu mong muốn. Phương thức xử lý “Khói” là tạo màu nền từ nâu sẫm đến đen. Phương pháp xử lý “Đường cát” tạo màu nền đen, chắn sáng.
Các viên opal nào quá mỏng, muốn dùng làm đá quý thì phải được dán thành hai hay ba lớp giống như bánh sandwich. Đá 2 lớp gồm đáy là vật liệu màu đen, phía trên là opal mỏng. Đá 3 lớp gồm 2 lớp kể trên, phần trên cùng là lớp thạch anh hay plastic không màu, dạng vòm. Dĩ nhiên là đá ghép này rẻ hơn đá opal nguyên. Chúng được bán theo từng viên và giá có thể lên đến hàng trăm lần nếu viên đá quá đặc biệt.
Bảo quản và làm sạch:
Opal có độ cứng 6 trên thang Mohs, mềm hơn nhiều loại đá quý khác, do đó nên giữ gìn cẩn thận để tránh bị làm trầy xước bởi những nữ trang khác. Nếu để đá rơi, phần nào lộ ra sẽ dễ bị bể. Không được để opal tiếp xúc với nhiệt hay axit. Rửa opal với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá nơi có thể dính nhiều chất dơ.
Opal bắt nguồn từ tiếng La Mã opalus, diễn tả một vẻ đẹp đặc biệt của loại đá quý này: có màu sặc sỡ.
Opal là một báu vật trong thời Trung Cổ và người Hy Lạp gọi là ophthalmios, nghĩa là đá mắt, do nhiều người tin rằng đá này giúp tăng thị lực. Một số khác lại nghĩ rằng opal giúp cho người đeo nó có thể trở nên vô hình. Có người còn cho là opal giúp giữ tóc màu vàng không bị bạc.
Opal là những đá chính trên các trang sức của vương triều Pháp. Vua Napoleon đã tặng cho hoàng hậu Josephine một viên opal đẹp sáng màu đỏ tươi, có tên là “Cháy Đỏ Thành Troy”.
Vào thế kỷ 19, opal bị xem là vật xui xuất phát từ một tiểu thuyết nổi tiếng một thời của nhà văn người Scotland là ngài Walter Scott. Trong truyện, nữ nhân vật chính gắn sức sống dựa vào viên đá opal xinh đẹp mà cô ấy cài trên mái tóc và khi viên opal mất đi ánh lửa thì cô gái cũng qua đời.
Opal là một trong các đá mừng sinh nhật trong tháng 10 ở Mỹ.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Khi định giá opal, các chuyên gia bắt đầu với màu nền của đá. Được ưa thích nhất là khi màu nền chung của đá thì sẫm và có lóe màu sặc sỡ.
Opal có giá trị nhất khi có màu nền xám sẫm đến đen và được gọi là opal đen. Opal có màu nền là trắng hay màu nhạt thì gọi là opal trắng, loại này có nhiều hơn và giá rẻ. Opal từ trong mờ đến trong suốt được gọi là opal tinh thể, giá trị của nó ở giữa 2 loại trên.
Sau màu nền, giá trị opal dựa vào mức độ và sự phân bố các màu sặc sỡ. Đẹp nhất là khi có tất cả các màu sặc sỡ phủ hết bề mặt viên đá, kể cả màu đỏ. Tuy nhiên opal là một trong các loại đá quý thể hiện tính riêng tư nhất, phụ thuộc vào sở thích của từng người.
Nguồn gốc:
Opal lửa là opal gốc núi lửa, trong suốt, có màu vàng sáng đến đỏ, được khai thác ở Mexico, thường được mài giác. Opal lửa hiếm khi thể hiện lóe màu sặc sỡ.
Opal lửa cũng có ở bang Oregon, Mỹ.
Người ta hay mài opal theo dạng ovan cabochon. Opal trắng thường được mài theo kích cỡ quy định, còn opal đen nào có giá trị sẽ được mài theo hình dáng để làm sao cho lóe màu sặc sỡ tối đa mặc dù dạng ovan là được ưa thích hơn cả.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Các phương pháp xử lý opal được dùng nhiều nhất là làm tối đá màu nhạt để cho giống opal đen. Phương pháp nhuộm là làm cho màu nhuộm thấm vào trong cấu trúc rỗng để đá có được màu mong muốn. Phương thức xử lý “Khói” là tạo màu nền từ nâu sẫm đến đen. Phương pháp xử lý “Đường cát” tạo màu nền đen, chắn sáng.
Các viên opal nào quá mỏng, muốn dùng làm đá quý thì phải được dán thành hai hay ba lớp giống như bánh sandwich. Đá 2 lớp gồm đáy là vật liệu màu đen, phía trên là opal mỏng. Đá 3 lớp gồm 2 lớp kể trên, phần trên cùng là lớp thạch anh hay plastic không màu, dạng vòm. Dĩ nhiên là đá ghép này rẻ hơn đá opal nguyên. Chúng được bán theo từng viên và giá có thể lên đến hàng trăm lần nếu viên đá quá đặc biệt.
Bảo quản và làm sạch:
Opal có độ cứng 6 trên thang Mohs, mềm hơn nhiều loại đá quý khác, do đó nên giữ gìn cẩn thận để tránh bị làm trầy xước bởi những nữ trang khác. Nếu để đá rơi, phần nào lộ ra sẽ dễ bị bể. Không được để opal tiếp xúc với nhiệt hay axit. Rửa opal với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá nơi có thể dính nhiều chất dơ.
Đá Chrysoberyl Mắt Mèo
Khi nhìn vào viên cabochon chrysoberyl mắt mèo, ta thấy một dải rực sáng phản chiếu quét ngang qua phần vòm làm cho viên đá giống y mắt của một con mèo. Cùng một họ hàng với alexandrite thay đổi màu, loại đá quý nhóm chrysoberyl này là một điển hình nổi tiếng nhất về hiệu ứng mắt mèo, hiệu ứng này có được do ánh sáng tác động lên các bao thể li ti hình kim bên trong viên đá (do đó đá mắt mèo thường không trong suốt).
Lịch sử và truyền thuyết:
Người Hy Lạp cổ gọi chrysoberyl mắt mèo là cymophane, nghĩa là “ánh sáng di chuyển”.
Trong nhiều nền văn hóa xưa, người ta cho rằng chrysoberyl mắt mèo có khả năng trị được các bệnh của mắt.
“Mắt” của viên đá chrysoberyl mắt mèo sẽ nháy được khi bạn chiếu 2 nguồn sáng lên nó và rồi xoay viên đá. Khi xoay viên đá, mắt sẽ tách ra thành 2 dải sáng xa dần rồi sau đó chập lại. Hiệu ứng này gọi là “mở và khép”.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Yếu tố giá trị quan trọng nhất của đá mắt mèo đó là độ mạnh, sự sắc nét và đối xứng của mắt.
Màu của chrysoberyl mắt mèo từ nâu “mật ong” cho đến lục “táo”, trong đó màu vàng kim có giá cao nhất.
Loại chrysoberyl mắt mèo đẹp thường có hiện tượng “sữa và mật ong”. Khi chiếu sáng theo chiều thẳng góc với mắt, hướng vào hông viên đá, thì một bên mắt sẽ có màu trắng sữa, bên kia vẫn giữ màu vàng kim đến nâu. Khi xoay viên đá, màu lại xoay theo.
Để thấy được hiệu ứng mắt mèo thì phải mài viên chrysoberyl theo dạng tròn hoặc ovan, phần mặt trên hình vòm, láng mịn, gọi là kiểu cabochon.
Cũng có một loại chrysoberyl trong suốt, có màu vàng đến màu vàng kim - mật ong. Những đá này thường được mài giác và làm ta nhớ đến các đá quý cũng có màu vàng và trong như saphia, topaz hay citrine.
Nguồn gốc:
Chrysoberyl có hiệu ứng mắt mèo được tìm thấy ở Sri Lanka, Brazin, Tanzania, Madagasca, Ấn Độ và một số nơi khác.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Chưa thấy xử lý nào trên chrysoberyl.
Bảo quản và làm sạch:
Chrysoberyl là loại đá quý cứng chắc và vững bền, độ cứng 8,5 trên thang Mohs, với độ cứng chắc tuyệt vời. Do đó nó rất phổ biến trong các nhẫn của phái nam.
Rửa chrysoberyl bằng xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà vào phía sau viên đá là nơi có thể dính nhiều chất dơ.
Người Hy Lạp cổ gọi chrysoberyl mắt mèo là cymophane, nghĩa là “ánh sáng di chuyển”.
Trong nhiều nền văn hóa xưa, người ta cho rằng chrysoberyl mắt mèo có khả năng trị được các bệnh của mắt.
“Mắt” của viên đá chrysoberyl mắt mèo sẽ nháy được khi bạn chiếu 2 nguồn sáng lên nó và rồi xoay viên đá. Khi xoay viên đá, mắt sẽ tách ra thành 2 dải sáng xa dần rồi sau đó chập lại. Hiệu ứng này gọi là “mở và khép”.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Yếu tố giá trị quan trọng nhất của đá mắt mèo đó là độ mạnh, sự sắc nét và đối xứng của mắt.
Màu của chrysoberyl mắt mèo từ nâu “mật ong” cho đến lục “táo”, trong đó màu vàng kim có giá cao nhất.
Loại chrysoberyl mắt mèo đẹp thường có hiện tượng “sữa và mật ong”. Khi chiếu sáng theo chiều thẳng góc với mắt, hướng vào hông viên đá, thì một bên mắt sẽ có màu trắng sữa, bên kia vẫn giữ màu vàng kim đến nâu. Khi xoay viên đá, màu lại xoay theo.
Để thấy được hiệu ứng mắt mèo thì phải mài viên chrysoberyl theo dạng tròn hoặc ovan, phần mặt trên hình vòm, láng mịn, gọi là kiểu cabochon.
Cũng có một loại chrysoberyl trong suốt, có màu vàng đến màu vàng kim - mật ong. Những đá này thường được mài giác và làm ta nhớ đến các đá quý cũng có màu vàng và trong như saphia, topaz hay citrine.
Nguồn gốc:
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Chưa thấy xử lý nào trên chrysoberyl.
Bảo quản và làm sạch:
Chrysoberyl là loại đá quý cứng chắc và vững bền, độ cứng 8,5 trên thang Mohs, với độ cứng chắc tuyệt vời. Do đó nó rất phổ biến trong các nhẫn của phái nam.
Rửa chrysoberyl bằng xà phòng trong nước ấm: dùng bàn chải chà vào phía sau viên đá là nơi có thể dính nhiều chất dơ.
Đá Mặt Trăng
Hình ảnh ánh trăng màu xanh chiếu xuyên qua bầu trời làm cho bạn hiểu vì sao một loại đá thuộc nhóm fenpat đã được đặt tên là đá mặt trăng (moonstone). Ánh sáng lung linh của nó di chuyển khắp mặt viên đá y như ánh trăng.
Lịch sử và truyền thuyết:
Do vẻ sáng mờ ảo lung linh của đá nên người La Mã và Hindu cổ đại nghĩ là đá mặt trăng thực sự đã được tạo ra từ ánh trăng.
Truyền thuyết kể rằng bạn có thể thấy được tương lai nếu bạn ngậm một viên đá mặt trăng trong miệng lúc trăng tròn.
Đá mặt trăng là một loại fenpat. Ánh sáng lung linh của nó được gọi là sự ngời sáng hoặc là hiệu ứng ánh trăng, được tạo ra bởi sự mọc xen của hai loại fenpat khác nhau, có các chiết suất khác nhau.
Ở châu Âu, đá mặt trăng là đá mừng sinh nhật trong tháng sáu. Còn ở Mỹ, nó có cùng danh hiệu chung với alexandrite và ngọc trai.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Đá mặt trăng đẹp thường hiếm, trong khi đó đá chất lượng thấp hơn thì lại có nhiều và giá khá rẻ.
Đá mặt trăng có thể có nhiều màu. Đá thường không màu, trắng hay xám phớt xanh nhạt có hiệu ứng ngời sáng màu trắng hay xanh. Những màu khác như nâu, vàng, lục hay hồng xanh thì hiếm hơn. Đá từ trong suốt đến trong mờ. Đá mặt trăng đẹp nhất thì có độ trong cao, không màu, ngời sáng màu xanh. Đôi khi đá cũng giống như con mắt ngời sáng.
Một loại fenpat có quan hệ gần gũi là đá mặt trăng cầu vồng, đó là fenpat labradorite. Ở đá này, sự ngời sáng có màu cầu vồng.
Đá thường được cắt theo dạng ovan cabochon để đạt hiệu ứng ngời sáng tối đa. Đôi khi chúng cũng được chạm thành hình mặt người nằm trong mặt trăng.
Nguồn gốc:
Đá được khai thác ở Sri Lanka, miền nam Ấn Độ, Miến Điện, và Mexico. Loại cầu vồng có ở Ấn Độ và Madagasca.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Chưa thấy xử lý trên đá mặt trăng.
Bảo quản và làm sạch:
Đá mặt trăng có độ cứng từ 6 đến 6,5 trên thang Mohs. Nên cất chúng tách biệt với đá cứng hơn để tránh trầy xước.
Rửa đá với xà phòng: dùng bàn chải đánh răng chà phía sau viên đá nơi dính bụi.
Lịch sử và truyền thuyết:
Do vẻ sáng mờ ảo lung linh của đá nên người La Mã và Hindu cổ đại nghĩ là đá mặt trăng thực sự đã được tạo ra từ ánh trăng.
Truyền thuyết kể rằng bạn có thể thấy được tương lai nếu bạn ngậm một viên đá mặt trăng trong miệng lúc trăng tròn.
Đá mặt trăng là một loại fenpat. Ánh sáng lung linh của nó được gọi là sự ngời sáng hoặc là hiệu ứng ánh trăng, được tạo ra bởi sự mọc xen của hai loại fenpat khác nhau, có các chiết suất khác nhau.
Ở châu Âu, đá mặt trăng là đá mừng sinh nhật trong tháng sáu. Còn ở Mỹ, nó có cùng danh hiệu chung với alexandrite và ngọc trai.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Đá mặt trăng đẹp thường hiếm, trong khi đó đá chất lượng thấp hơn thì lại có nhiều và giá khá rẻ.
Đá mặt trăng có thể có nhiều màu. Đá thường không màu, trắng hay xám phớt xanh nhạt có hiệu ứng ngời sáng màu trắng hay xanh. Những màu khác như nâu, vàng, lục hay hồng xanh thì hiếm hơn. Đá từ trong suốt đến trong mờ. Đá mặt trăng đẹp nhất thì có độ trong cao, không màu, ngời sáng màu xanh. Đôi khi đá cũng giống như con mắt ngời sáng.
Một loại fenpat có quan hệ gần gũi là đá mặt trăng cầu vồng, đó là fenpat labradorite. Ở đá này, sự ngời sáng có màu cầu vồng.
Đá thường được cắt theo dạng ovan cabochon để đạt hiệu ứng ngời sáng tối đa. Đôi khi chúng cũng được chạm thành hình mặt người nằm trong mặt trăng.
Nguồn gốc:
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Chưa thấy xử lý trên đá mặt trăng.
Bảo quản và làm sạch:
Đá mặt trăng có độ cứng từ 6 đến 6,5 trên thang Mohs. Nên cất chúng tách biệt với đá cứng hơn để tránh trầy xước.
Rửa đá với xà phòng: dùng bàn chải đánh răng chà phía sau viên đá nơi dính bụi.
Hổ Phách
Hổ phách đã giúp các nhà cổ sinh tái tạo cuộc sống trên địa cầu trong các giai đoạn nguyên thủy. Hổ phách được thành tạo từ nhựa cây cách nay hàng triệu năm, chúng hay bao lấy các mẫu côn trùng. Có hơn 1.000 mẫu côn trùng còn nguyên nằm trong hổ phách đã được xác định tên. Ngoài ra, hổ phách còn đóng vai trò chứng tích thời gian, từ thời Đồ Đá, hổ phách đã trở nên có giá trị nhờ vẻ đẹp của nó khi nó được dùng làm một trong những đồ trang sức sớm nhất.
Lịch sử và truyền thuyết:
Người Hy Lạp gọi hổ phách là electron (điện tử) hoặc là do trời tạo ra, có lẽ vì nó mang điện khi cọ sát với vải và có thể hút các thành phần cực nhỏ.
Nicias, một nhà văn cổ, nói hổ phách là do chất hương thơm hay tinh chất của mặt trời lặn tích tụ lại trong đại dương rồi trôi dạt lên bờ biển.
Người La Mã đã đưa quân đến chiếm đóng và kiểm soát các vùng sản xuất hổ phách. Nero, hoàng đế La Mã, là người rất sành sỏi về hổ phách. Theo Pliny, nhà sử học La Mã, thì dưới triều đại của Nero, giá của một tượng hổ phách chạm trổ cao hơn giá của một nô lệ khỏe mạnh.
Người Đức cổ đốt hổ phách để có hương thơm, do đó họ gọi nó là bernstein hay đá cháy.
Hổ phách không màu được xem là vật liệu tốt nhất dùng làm chuỗi hạt cầu nguyện trong thời Trung Cổ do cảm giác láng mượt của nó. Một số tổ chức của giới hiệp sĩ kiểm soát việc kinh doanh và việc sở hữu trái phép hổ phách nguyên liệu là bất hợp pháp ở hầu hết châu Âu vào năm 1400.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Màu hổ phách gồm trắng, vàng, vàng kim, cam và nâu, hiếm gặp có màu xanh, lục và đỏ.
Ở Mỹ thích loại hổ phách trong suốt, còn châu Âu lại thích hổ phách mây (đục).
Một số hổ phách có màn màu xanh vào ban ngày gây ra bởi bức xạ màu xanh.
Hổ phách thường được tạo thành hạt tròn, cabochon hoặc được chạm trổ.
Nguồn gốc:
Hai nguồn cung cấp chính hổ phách trên thị trường là các quốc gia vùng Baltic và Cộng hòa Dominica.
Hổ phách vùng Baltic thì cổ hơn nên được thị trường ưa chuộng, nhưng hổ phách ở Dominica thì lại nhiều xác côn trùng hơn.
Trong vùng Baltic, mỏ hổ phách lớn nhất ở tây Kaliningrad thuộc Nga, ngoài ra còn tìm thấy hổ phách ở Lithuania, Estonia, Latvia, Ba Lan và Đức, thỉnh thoảng hổ phách lại trôi dạt vào bờ biển Baltic thuộc Đan Mạch và Na Uy.
Các nguồn hổ phách khác ở các nước như Miến Điện, Liban, đảo Scicily, Mexico, Rumani và Canada.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Hổ phách mây có thể được nung nóng trong dầu để trong hơn. Đôi khi nhiệt có thể tạo ra các khe nứt dạng đĩa lý thú gọi là đĩa mặt trời. Nung nóng cũng có thể làm cho màu sậm hơn.
Bảo quản và làm sạch:
Hổ phách là loại đá quý mềm, độ cứng chỉ đạt 2 đến 2,5 trên thang Mohs. Không được cất nó chung với đồ kim hoàn để tránh bị trầy xước.
Không bao giờ cho hổ phách tiếp xúc với nhiệt và hóa chất như keo xịt tóc hoặc nước hoa và cũng không nên rửa nó với máy siêu âm.
Để làm sạch hổ phách, chỉ cần lau nhẹ nó bằng một miếng vải mềm thấm nước
Người Hy Lạp gọi hổ phách là electron (điện tử) hoặc là do trời tạo ra, có lẽ vì nó mang điện khi cọ sát với vải và có thể hút các thành phần cực nhỏ.
Nicias, một nhà văn cổ, nói hổ phách là do chất hương thơm hay tinh chất của mặt trời lặn tích tụ lại trong đại dương rồi trôi dạt lên bờ biển.
Người La Mã đã đưa quân đến chiếm đóng và kiểm soát các vùng sản xuất hổ phách. Nero, hoàng đế La Mã, là người rất sành sỏi về hổ phách. Theo Pliny, nhà sử học La Mã, thì dưới triều đại của Nero, giá của một tượng hổ phách chạm trổ cao hơn giá của một nô lệ khỏe mạnh.
Người Đức cổ đốt hổ phách để có hương thơm, do đó họ gọi nó là bernstein hay đá cháy.
Hổ phách không màu được xem là vật liệu tốt nhất dùng làm chuỗi hạt cầu nguyện trong thời Trung Cổ do cảm giác láng mượt của nó. Một số tổ chức của giới hiệp sĩ kiểm soát việc kinh doanh và việc sở hữu trái phép hổ phách nguyên liệu là bất hợp pháp ở hầu hết châu Âu vào năm 1400.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Màu hổ phách gồm trắng, vàng, vàng kim, cam và nâu, hiếm gặp có màu xanh, lục và đỏ.
Ở Mỹ thích loại hổ phách trong suốt, còn châu Âu lại thích hổ phách mây (đục).
Một số hổ phách có màn màu xanh vào ban ngày gây ra bởi bức xạ màu xanh.
Hổ phách thường được tạo thành hạt tròn, cabochon hoặc được chạm trổ.
Nguồn gốc:
Hổ phách vùng Baltic thì cổ hơn nên được thị trường ưa chuộng, nhưng hổ phách ở Dominica thì lại nhiều xác côn trùng hơn.
Trong vùng Baltic, mỏ hổ phách lớn nhất ở tây Kaliningrad thuộc Nga, ngoài ra còn tìm thấy hổ phách ở Lithuania, Estonia, Latvia, Ba Lan và Đức, thỉnh thoảng hổ phách lại trôi dạt vào bờ biển Baltic thuộc Đan Mạch và Na Uy.
Các nguồn hổ phách khác ở các nước như Miến Điện, Liban, đảo Scicily, Mexico, Rumani và Canada.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Hổ phách mây có thể được nung nóng trong dầu để trong hơn. Đôi khi nhiệt có thể tạo ra các khe nứt dạng đĩa lý thú gọi là đĩa mặt trời. Nung nóng cũng có thể làm cho màu sậm hơn.
Bảo quản và làm sạch:
Hổ phách là loại đá quý mềm, độ cứng chỉ đạt 2 đến 2,5 trên thang Mohs. Không được cất nó chung với đồ kim hoàn để tránh bị trầy xước.
Không bao giờ cho hổ phách tiếp xúc với nhiệt và hóa chất như keo xịt tóc hoặc nước hoa và cũng không nên rửa nó với máy siêu âm.
Để làm sạch hổ phách, chỉ cần lau nhẹ nó bằng một miếng vải mềm thấm nước
Đá Tourmaline
Tourmaline bắt nguồn từ chữ turmali thuộc ngôn ngữ vùng Nam Á, có nghĩa là “trộn lẫn”. Do có các màu hay phối hợp giữa các màu nhiều hơn các đá khác trong tự nhiên nên đá này mang tên như thế. Có lẽ đó là lý do mà các nhà thần bí xưa kia tin rằng tourmaline có thể cho họ sức mạnh trực giác nghệ thuật: đá này có đủ các màu để diễn tả mọi cảm xúc.
Lịch sử và truyền thuyết:
Vì màu của chúng giống hầu hết các đá quý khác nên tourmaline hay bị nhầm trong thời kỳ cổ đại. Chẳng hạn như một số đá “ruby” trong trang sức Hoàng gia Nga thực sự là tourmaline rubellite.
Các khoa học gia rất quan tâm đến tourmaline do chúng có một đặc điểm tinh thể lạ: chúng thu được một điện tích phân cực khi bị nung nhiệt hay bị ép.
Cùng với đá opal, tourmaline là đá mừng sinh nhật tháng 10 ở Mỹ.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Màu giá trị nhất của tourmaline là xanh mạnh sáng, nhưng hiếm và màu lục. Chúng được tìm thấy đầu tiên ở Paraíba Brazin (gọi là tourmaline paraíba) và sau nầy ở Nigeria.
Tourmaline indicolite màu xanh và rubellite màu đỏ cũng được ưa chuộng, nhưng đá chất lượng đẹp khó tìm thấy. Tourmaline màu lục mạnh có ở Kenya và Tanzania, gọi là tourmaline chrome, cũng hiếm và giá trị cao.
Tourmaline hồng và lục thì phổ biến và giá rẻ hơn.
Một số tourmaline có nhiều màu trong cùng một tinh thể. Chúng được cắt mài thành các viên đá hai màu hay ba màu được gọi là tourmaline 2 màu, 3 màu. Hai màu thường đi chung là hồng và lục.
Vì rubellite màu đỏ, hồng và paríba thường chứa nhiều bao thể, nên một số bao thể được chấp nhận và không làm giảm giá trị nhiều như các đá tourmaline khác.
Vì chúng tăng trưởng thành các tinh thể hình bút chì nên tourmaline thường được cắt mài theo kiểu emerald với hình chữ nhật dài. Nhiều dạng khác cũng có.
Nguồn gốc:

Còn tìm thấy tourmailne ở Tanzania, Kenya, Madagasca, Mozambique, Namibia, Nigeria, Zambia, Afghanistan, Pakistan, Sri Lanka, California và Maine thuộc Mỹ.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Màu hồng ở tourmaline có thể được cải thiện bằng bức xạ, một số màu xanh và lục được tăng lên nhờ xử lý nhiệt, tuy nhiên các màu xử lý không bền và không thể phát hiện được, do đó không ai biết được mức độ phổ biến các xử lý này.
Rubellite và paraíba thường chứa nhiều bao thể nên có thể được xử lý lấp đầy: các khe nứt sát bề mặt được lấp đầy bằng nhựa để khó nhìn thấy chúng hơn.
Bảo quản và làm sạch:
Tourmaline có độ cứng 7 đến 7,5 trên thang Mohs và bền nên có theo đeo hàng ngày.
Rửa với xà phòng và nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi có thể tích tụ nhiều chất dơ. Không được dùng máy siêu âm để rửa rubellite và paraíba.
Lịch sử và truyền thuyết:
Vì màu của chúng giống hầu hết các đá quý khác nên tourmaline hay bị nhầm trong thời kỳ cổ đại. Chẳng hạn như một số đá “ruby” trong trang sức Hoàng gia Nga thực sự là tourmaline rubellite.
Các khoa học gia rất quan tâm đến tourmaline do chúng có một đặc điểm tinh thể lạ: chúng thu được một điện tích phân cực khi bị nung nhiệt hay bị ép.
Cùng với đá opal, tourmaline là đá mừng sinh nhật tháng 10 ở Mỹ.
Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:
Màu giá trị nhất của tourmaline là xanh mạnh sáng, nhưng hiếm và màu lục. Chúng được tìm thấy đầu tiên ở Paraíba Brazin (gọi là tourmaline paraíba) và sau nầy ở Nigeria.
Tourmaline indicolite màu xanh và rubellite màu đỏ cũng được ưa chuộng, nhưng đá chất lượng đẹp khó tìm thấy. Tourmaline màu lục mạnh có ở Kenya và Tanzania, gọi là tourmaline chrome, cũng hiếm và giá trị cao.
Tourmaline hồng và lục thì phổ biến và giá rẻ hơn.
Một số tourmaline có nhiều màu trong cùng một tinh thể. Chúng được cắt mài thành các viên đá hai màu hay ba màu được gọi là tourmaline 2 màu, 3 màu. Hai màu thường đi chung là hồng và lục.
Vì rubellite màu đỏ, hồng và paríba thường chứa nhiều bao thể, nên một số bao thể được chấp nhận và không làm giảm giá trị nhiều như các đá tourmaline khác.
Vì chúng tăng trưởng thành các tinh thể hình bút chì nên tourmaline thường được cắt mài theo kiểu emerald với hình chữ nhật dài. Nhiều dạng khác cũng có.
Nguồn gốc:
Brazin là nguồn của nhiều loại tourmaline đủ màu.
Còn tìm thấy tourmailne ở Tanzania, Kenya, Madagasca, Mozambique, Namibia, Nigeria, Zambia, Afghanistan, Pakistan, Sri Lanka, California và Maine thuộc Mỹ.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Màu hồng ở tourmaline có thể được cải thiện bằng bức xạ, một số màu xanh và lục được tăng lên nhờ xử lý nhiệt, tuy nhiên các màu xử lý không bền và không thể phát hiện được, do đó không ai biết được mức độ phổ biến các xử lý này.
Rubellite và paraíba thường chứa nhiều bao thể nên có thể được xử lý lấp đầy: các khe nứt sát bề mặt được lấp đầy bằng nhựa để khó nhìn thấy chúng hơn.
Bảo quản và làm sạch:
Tourmaline có độ cứng 7 đến 7,5 trên thang Mohs và bền nên có theo đeo hàng ngày.
Rửa với xà phòng và nước ấm: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi có thể tích tụ nhiều chất dơ. Không được dùng máy siêu âm để rửa rubellite và paraíba.
Emerald Lục Bảo Ngọc
Ở Việt Nam đôi khi gọi emerald là lục ngọc hay lục bảo ngọc. Nhờ có màu lục mạnh là màu của mùa xuân nên từ lâu người ta xem emerald là biểu tượng của tình yêu và sự tái sinh. Nhiều nhà cai trị khác nhau như nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, vua Ấn Độ Shah Jahan và các vua Tây Ban Nha xem emerald là báu vật nên nó đã trở thành một loại tiền tệ quốc tế trong hàng nghàn năm qua.
Lịch sử và truyền thuyết:
Khoảng 4000 năm qua, các nền văn hóa trên khắp thế giới xem emerald là báu vật, người ta cho rằng nó giúp phát triển trí thông minh cũng như chất xúc tác tình yêu. Truyền thuyết kể rằng ai sở hữu nó sẽ có được tài hùng biện.
Xác ướp Ai Cập xưa được chôn cùng với emerald đeo trên cổ để chứng tỏ tuổi trẻ bất diệt. Emerald là loại đá quý được Cleopatra ưa thích.
Các Mogul (vua chúa Hồi giáo cổ từ thế kỷ 16 đến 19) ở Ấn Độ, trong đó có Shah Jahan, người đã xây đền Taj Mahal, thích emerald đến nỗi mà họ hay khắc lời kinh lên chúng và đeo như là bùa chú. Một số đá quý linh thiêng này, được gọi là emerald Mogul, ngày nay vẫn còn thấy chúng trong các bảo tàng và các bộ sưu tập.
Người Incas (cư dân cổ sống vùng cao nguyên Nam châu Mỹ trước khi bị Tây Ban Nha chinh phục) có một nữ thần emerald, đó là một viên emerald huyền thoại to bằng một trứng đà điểu.
Ở Mỹ, emerald là đá mừng sinh nhật trong tháng 5.
Emerad giá trị nhất khi có màu lục mạnh sáng của cỏ mùa xuân sau cơn mưa. Vì emerald ở Columbia đã được xem là chuẩn mực bao thế kỷ nay cho nên loại màu lục thuần khiết, như thấy ở Columbia, thường được ưa chuộng hơn là màu lục hơi xanh sẫm của emerald tại Phi châu.
Emerald hiếm và trị giá cao. Với những viên màu đẹp nhỏ hơn 5 carat thì emerald có thể sẽ cao giá hơn ruby hay saphia.
Vì emerald không tạp chất thường hiếm cho nên người ta chấp nhận emerald có một số tạp chất nhất định và chúng không làm giảm giá trị viên đá. Tuy nhiên khi mua, bạn không nên chọn những viên nào có khe nứt hay tạp chất phân bố quá sâu vào bên trong viên đá, vì chúng sẽ làm cho viên đá yếu đi và dễ bị nứt, bể khi vô tình va chạm mạnh.
Emerald thường được cắt mài theo kiểu hình chữ nhật, giác tầng mà mọi người hay gọi là kiểu emerald. Các viên đá nhỏ thì lại được mài theo dạng tròn, ovan, giọt nước, hạt dưa. Nhờ màu đậm nên emerald cũng rất đẹp khi được mài theo dạng cabochon.
Nguồn gốc:
Columbia là nguồn emerald nổi tiếng nhất và cũng là quốc gia khai thác quan trọng nhất.
Emerald từ Brazin thì thường có kích thước lớn nhưng màu lục thì lại nhạt hơn màu lý tưởng.
Emerald ở Zambia thì lại có màu lục phớt xanh sẫm và có độ sạch rất cao.
Emerald gốc Zimbabwe có màu đẹp và độ sạch khá cao nhưng kích thước thường nhỏ hơn 1 carat.
Emerald ở Afghanistan và Madagasca có màu đẹp nhưng khai thác còn hạn chế.
Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:
Các khe nứt phổ biến trong emerald và thường được lấp đầy bằng chất dầu hoặc nhựa để khó nhìn thấy chúng hơn. Cách xử lý này gọi là lấp đầy hoặc tẩm dầu khe nứt. Có thể cần tái lấp đầy emerald định kỳ để thay thế chất lấp đầy cũ đã bị biến đổi. Việc xử lý này được xem là không bền và có thể phát hiện được.
Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012
Đá Aquamarin Aquamarine
Aquamarin còn được gọi là ngọc của biển vì tên của nó bắt nguồn từ “nước biển”. Truyền thuyết cho rằng aquamarin là báu vật của nàng tiên cá, nó có quyền năng giúp cho các thủy thủ an toàn trên biển. Quyền năng của nó được tăng lên khi nhúng vào trong nước. Người ta cũng cho rằng aquamarin sẽ giúp đem lại sự bình an cho các đôi uyên ương. Vì năng lượng của nó bảo đảm cho một cuộc hôn nhân bền vững và hạnh phúc nên aquamarin đã trở thành một món quà cưới quý giá. Aquamarin là loại đá của người sinh vào tháng 3.
1. Khái quát chung
Aquamarin theo tiếng La tinh có nghĩa là màu xanh nước biển (tiếng Pháp - lau de mer) được Boece de Boot sử dụng vào năm 1604. Aquamarin cũng là bùa hộ mệnh đối với các thuỷ thủ xưa, và là quà cưới biểu hiện mối tình hạnh phúc bền lâu của đôi vợ chồng trẻ.
2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể:
3. Các tính chất vật lý và quang học
- Tỷ trọng: 2.66-2.80
- Chiết suất: 1.56-1.59
- Lưỡng chiết: 0.007
- Đa sắc: Lam/không màu
- Màu sắc: aquamarin có màu xanh nước biển (màu lam sáng, lam, lam-lục), còn các thông số khác cũng giống như emơrôt.
- Phổ hấp thụ: 5370 vạch này chỉ thấy theo phương bất đồng thường nằm giữa vùng lục, các vạch khác là 4560, 4270. Đối với aquamarin xử lý nhiệt không thấy những vạch này.
4. Đặc điểm bao thể:
5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp
Aquamarin không được xử lý và ít được tổng hợp trong công nghiệp.
Cũng giống như berin, aquamarin có nguồn gốc pegmatit và nhiệt dịch là chủ yếu. Các tinh thể aquamarin có kích thước lớn thường được hình thành trong các quá trình pegmatit.
Trên thế giới aquamarin chủ yếu có nguồn gốc từ Brasin, Kenya, Nigiêria, Zambia,…
7. Chế tác
Đối với aquamarin người ta cũng áp dụng kiểu cắt bậc như emơrôt. Song chỉ khác một điều là hướng cắt được chọn khác đi. Mặt bàn (table) của emơrôt thường cắt vuông góc với trụ quang, còn aquamarin thì cắt song song với trục quang.
Loại đá tự nhiên giống aquamarin là topaz, tuy nhiên chiết suất của nó là 1,610 - 1,620, cao hơn chiết suất của aquamarin (1,574 - 1,580).
Đá spinen tổng hợp có màu lam nhạt do cobal, nhưng có tỷ trọng 3,63 và chiết suất 1,728. Đơn giản nhất dùng kính lọc màu Chelsea sẽ thấy spinen có màu đỏ còn aquamarin có màu lục.
Thủy tinh màu lam nhạt giả aquamarin cũng dễ phân biệt vì thủy tinh đơn chiết và mềm hơn.
1. Khái quát chung
Aquamarin theo tiếng La tinh có nghĩa là màu xanh nước biển (tiếng Pháp - lau de mer) được Boece de Boot sử dụng vào năm 1604. Aquamarin cũng là bùa hộ mệnh đối với các thuỷ thủ xưa, và là quà cưới biểu hiện mối tình hạnh phúc bền lâu của đôi vợ chồng trẻ.
2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể:
Dạng tinh thể đặc trưng của aquamarin
3. Các tính chất vật lý và quang học
- Tỷ trọng: 2.66-2.80
- Chiết suất: 1.56-1.59
- Lưỡng chiết: 0.007
- Đa sắc: Lam/không màu
- Màu sắc: aquamarin có màu xanh nước biển (màu lam sáng, lam, lam-lục), còn các thông số khác cũng giống như emơrôt.
- Phổ hấp thụ: 5370 vạch này chỉ thấy theo phương bất đồng thường nằm giữa vùng lục, các vạch khác là 4560, 4270. Đối với aquamarin xử lý nhiệt không thấy những vạch này.
4. Đặc điểm bao thể:
5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp
Aquamarin không được xử lý và ít được tổng hợp trong công nghiệp.
Aquamarin Brasil
6. Nguồn gốc và phân bốCũng giống như berin, aquamarin có nguồn gốc pegmatit và nhiệt dịch là chủ yếu. Các tinh thể aquamarin có kích thước lớn thường được hình thành trong các quá trình pegmatit.
Trên thế giới aquamarin chủ yếu có nguồn gốc từ Brasin, Kenya, Nigiêria, Zambia,…
Aquamarin Pakistan
Aquamarin Nam Phi
Đối với aquamarin người ta cũng áp dụng kiểu cắt bậc như emơrôt. Song chỉ khác một điều là hướng cắt được chọn khác đi. Mặt bàn (table) của emơrôt thường cắt vuông góc với trụ quang, còn aquamarin thì cắt song song với trục quang.
Aquamarin Thường Xuân, Thanh Hoá
8. Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết.Loại đá tự nhiên giống aquamarin là topaz, tuy nhiên chiết suất của nó là 1,610 - 1,620, cao hơn chiết suất của aquamarin (1,574 - 1,580).
Đá spinen tổng hợp có màu lam nhạt do cobal, nhưng có tỷ trọng 3,63 và chiết suất 1,728. Đơn giản nhất dùng kính lọc màu Chelsea sẽ thấy spinen có màu đỏ còn aquamarin có màu lục.
Thủy tinh màu lam nhạt giả aquamarin cũng dễ phân biệt vì thủy tinh đơn chiết và mềm hơn.
Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012
Các Loại Đá Quý Ở Việt Nam
Trong khoảng thời gian hơn một thập kỷ lại đây, Việt Nam được thế giới biết đến như một trong các quốc gia giàu tiềm năng đá quý. Chúng ta có nhiều loại đá quý, phân bố ở nhiều vùng khác nhau, trong đó đáng kê nhất phải kể đến:
1. Amber (Hổ phách)
2. Amethyst (Thạch anh tím)
3. Aquamarine (Ngọc xanh biển)
4. Diamond (Kim cương)
5. Emerald (Ngọc lục bảo)
6. Jade (Ngọc Bích)
7. Opal (Ngọc mắt mèo)
8. Sapphire (đá Saphia)
9. Ruby (Hồng ngọc)
10. Peridot (đá Peridot)
11. Agate
12. Carnelian
13. Garnet
14. Bloodstone
15. Beryl
16. Topaz
17. Onyx (Cẩm thạch)
Đá Ruby, Saphire:
Đá Spinel:
Đặc điểm:
Phân bố : Lục Yên (Yên Bái), Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An), Tây Nguyên.
Đá Topaz:
Phân bố : Thường Xuân (Thanh Hoá)
Đá Aquamarien, Beryl:
Dãy màu của aquamarine là từ màu xanh nước biển đậm đến màu xanh da trời nhẹ, độ phát sáng cực đẹp với ánh xanh dương nhẹ là chủ yếu. Phụ nữ trên thế giới rất yêu thích màu xanh của đá, và các nhà thiết kế trang sức cũng rất yêu thích nó bởi vì nó dễ mài cắt.
Màu xanh nhẹ khơi gợi sự cảm thông, lòng tin, sự hòa hợp và tình bạn. Tên của nó là 1 từ la tinh có 2 từ có nghĩa là “nước” và “biển”. Người ta nói rằng sức mạnh của nó được phát huy tối đa khi được đặt ở dưới nước, dưới ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên, người thời xưa cho rằng đeo đá aquamarine sẽ hứa hẹn 1 cuộc hôn nhân hạnh phúc, còn phụ nữ đeo nó thì sẽ có niềm vui và sự giàu có.
Phân bố : Thường Xuân (Thanh Hoá), Cam Ranh (Ninh Thuận)
Đá Thạch anh các loại:
Phân bố : Tây Nghệ An, Bảo Lộc (Lâm Đồng), Núi Dinh (Bà Rịa -Vũng Tàu), Đồng Nai, Quảng Nam, Phú Yên, Tây Nguyên.
Đá Turmaline:
Phân bố : Lục Yên (Yên Bái), Bảo Lộc (Lâm Đồng)
Đá Zircon:
Phân bố : Tây Nguyên
Đá Peridot:
Đá Granat:
Phân bố : Nghệ An, Tây Nguyên.
Gỗ hoá đá(Petrifield wood):
Phân bố : Tây Nguyên.
Đá Opal - Canxedon:
Phân bố : Thủ Đức (TP.HCM), Tây Nguyên.
Đặc điểm đá Opanl : Do có hiệu ứng lóe màu sặc sỡ (màu cầu vồng) nên viên đá opal có các màu của những loại đá quý khác gộp lại. Hiệu ứng lóe màu sặc sỡ được tạo ra do nhiễu xạ bên trong đá: các cầu thể li ti nằm trong đá làm tách ánh sáng thành các màu phổ tán sắc ngời sáng, giống hệt hiện tượng màu sặc sỡ do các rãnh cực nhỏ trên các đĩa CD gây ra.
1. Amber (Hổ phách)
2. Amethyst (Thạch anh tím)
3. Aquamarine (Ngọc xanh biển)
4. Diamond (Kim cương)
5. Emerald (Ngọc lục bảo)
6. Jade (Ngọc Bích)
7. Opal (Ngọc mắt mèo)
8. Sapphire (đá Saphia)
9. Ruby (Hồng ngọc)
10. Peridot (đá Peridot)
11. Agate
12. Carnelian
13. Garnet
14. Bloodstone
15. Beryl
16. Topaz
17. Onyx (Cẩm thạch)
Đá Ruby, Saphire:
Ruby sao
Đặc điểm đá Ruby :Hàng nghìn năm nay, Ruby vẫn được xem như loại đá quý hiếm nhất trên thế giới. Nó có tất cả các tiêu chuẩn mà 1 viên đá quý cần phải có như là: màu sắc rực rỡ, độ cứng tốt nhất, phát sáng cực mạnh. Thêm vào đó đây là 1 loại đá quý rất hiếm có, nhất là những viên đá quý ruby có chất lượng tuyệt hảo.
Trong thời gian dài, Ấn Độ được xem như là một nước khai thác sớm nhất trên thế giới. Trong các tác phẩm văn học Ấn độ, 1 kho tàng kiến thức về đá quý đã được lưu truyền trong khoảng thời gian hơn hai nghìn năm. Thuật ngữ “khoáng chất corundum” mà chúng ta sử dụng ngày nay, bắt nguồn từ tiếng Phạn “kuruvinda”. Trong tiếng Phạn, đá ruby có tên là “natnaraj” có nghĩa là “Vua của các loại đá quý”. Bất cứ khi nào 1 tinh thể Ruby được tìm thấy, nhà cầm quyền cử Các quan chức cấp cao đến xem và đón tiếp viên đá theo nghi thức quý tộc. Ngày nay, ruby vẫn được dung để trang trí cho vật tượng trưng cho quyền lực trong các nhà quý tộc. Nhưng có phải tất cả trong số đó là ruby thật? hãy đọc thêm để hiểu rõ hơn.
Chỉ 1 chút Crôm
Ruby rất đa dạng về màu đỏ của khoáng chất corudom, 1 khoáng chất cứng nhất trên trái đất, trong đó sapphire cũng rất đa dạng. Khoáng chất corudom trong thì không màu. Nhưng có nguyên tố bên trong như crom, sắt, titan, hay vanadium thì có màu. Những loại đá quý này có độ cứng cao. Trong bảng đo độ cứng, nó có độ cứng là 9 đứng thứ 2 chỉ sau có kim cương. Chỉ có khoáng chất corundum màu đỏ mới được gọi là Ruby, còn các màu khác thì được phân loại thành sapphire. Mối quan hệ gần gũi giữa ruby và sapphire được biết đến từ giữa thế kỉ 19. Trước đó những viên garnet đỏ và spinel lại được cho là ruby.
( Đó là lý do tại sao “viên ruby đen” và “viên ruby timur”, 2 viên đá quý của vua nước Anh lại được đặt tên như vậy trong khi chúng là spinel chứ không phải ruby).
Ruby, loại đá quý màu đỏ trong nhóm khoáng vật corundum nhiều màu sắc, bao gồm oxit nhôm và crôm cũng như nhiều nguyên tố khác – phụ thuộc vào lớp trầm tích mà nó được hình thành lên. Với màu sắc đẹp và độ trong cao, loại đá quý này rất hiếm của các mỏ trên thế giới. Thật là 1 nghịch lý, chính màu sắc của nguyên tố crom tạo lên độ quý hiếm của nó. Hàng triệu năm trước, khi các loại đá quý được tạo thành trong lòng trái đất, thì nguyên tố crom tạo ra cho loại đá quý này màu sắc tuyệt đẹp nhưng cũng chính nó là nguyên nhân tạo lên những vết rạn nứt và vết xước bên trong tinh thể. Vì vậy chỉ có vài tinh thể ruby hình thành trong điều kiện tốt mới có kích thước lớn và kết tinh thành những viên đá quý hoàn hảo. Vì lý do này mà những viên ruby 3 carat thì rất hiếm. Do vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi những viên ruby không có tạp chất, màu sắc đẹp, kích thước lớn được bán với giá rất cao trong các cuộc bán đấu giá, thậm chí là cao hơn giá của viên kim cương cùng loại.
Một vài viên ruby phô bày với ánh sáng óng ánh tuyệt đẹp, được gọi là vẻ óng mượt như tơ của ruby. Hiện tượng này là do các khoáng vật rutile hình kim bên trong tạo lên. Và 1 trong những viên ruby sao được tìm thấy, cũng có khoáng vật rutile bên trong, đã tạo lên hình sao bên trong viên ruby, nó tạo ra hiệu ứng ánh sáng tuyệt đẹp. Nếu ruby dạng này được mài cắt cabochon dạng nửa vòm, tạo lên ngôi sao sáu cánh trên bề mặt viên đá. Những viên ruby sao rất quý hiếm. Giá trị của nó phụ thuộc vào vẻ đẹp, sự quyến rũ của màu sắc, và cả độ trong suốt. Tuy nhiên những viên ruby sao chất lượng tốt luôn có những cánh sao nằm ngang trên bề mặt viên đá và tâm điểm của sao là ở chính giữa viên đá.
Ruby – màu đỏ mang ý nghĩa niềm đam mê
Điều quang trọng nhất với 1 viên đá quý là màu sắc của nó. Tên “ruby” bắt nguồn từ tiếng Latin “rubens” có nghĩa màu đỏ. Màu đỏ của ruby rất riêng biệt (có một không hai): tượng trưng cho sự ấm áp và rực lửa. Hai yếu tố tạo lên đặc trưng cho màu sắc của nó: lửa và máu như tượng trưng cho sự ấm cúng và cuộc sống của loài người. Vì vậy màu đỏ của ruby không bao giờ là cũ, nó luôn là màu của đam mê, nóng bỏng, quyền lực. Không giống các loại đá quý khác, ruby có cách biểu thị tình cảm rất mạnh mẽ. Chiếc nhẫn ruby thể hiện tình yêu đầy đam mê mà con người dành cho nhau.
Đặc điểm đá Sapphire: Sapphire được gọi là đá quý của trời cũng là do rất ít nơi có thể khai thác được. Sapphire được khai thác chủ yếu ở Ấn Độ, Burma, Ceylon, Thái Lan, Việt Nam, Úc, Brazil và châu phi. Từ các mỏ đá quý, các tinh thể thô lần đầu tiên được thợ thủ công mài cắt để tạo độ lấp lánh. Thêm vào đó, khi mài cắt sapphire, người thợ phải vận dụng mọi kĩ năng bởi vì loại đá này không chỉ cứng mà còn phụ thuộc vào góc cạnh để phát huy được hết các màu khác nhau và cường độ phát màu. Vì vậy công việc của người thợ mài cắt từ các tinh thể thô phải vận dụng được hết thuận lợi của từng viên đá.
Phụ thuộc vào địa điểm được khai thác, thì đá có cường độ màu sắc và mài cắt rất phong phú, nên đá có sự khác nhau và người đeo trang sức có nhiều sự lựa chọn. Cô ấy có nên đeo viên đá màu xanh trung tính vào những ngày trời mưa để nhắc về bầu trời mùa hè đầy nắng? Hay cô ấy thích viên đá màu xanh dương nhẹ tỏa sáng trong buổi trời chiều mùa thu? Ánh sáng ban ngày làm viên sapphire tỏa sáng hơn ánh sáng nhẹ nhân tạo buổi tối. Vì vậy, dù có ở mọi góc độ ánh sáng thì viên sapphire vẫn thể hiện được vẻ đẹp riêng của nó.
Các chuyên gia và giới am hiểu quan tâm màu của sapphire ở Kashmir với ánh sáng thẫm thể hiện màu xanh dương đẹp nhất và quý giá nhất. Những viên đá quý này được tìm thấy tại vùng Kashmir vào năm 1880 sau 1 vụ nở đất 16.000 feet so với mực nước biển và được khai thác nhiều trong thời gian 8 năm, màu sắc của sapphire loại 1 bị ảnh hưởng bởi ý kiến của nhiều người. Màu sắc điển hình cho loại đá vùng Kashmir là màu xanh dương trong, đậm với ánh tím rất huyền ảo. Người ta nói rằng màu sắc này không thay đổi dưới ánh sáng nhân tạo. Nhưng màu sắc của viên đá ở Miến Điện cũng được coi là rất quý giá, nó thay đổi từ màu xanh lam xẫm hay màu xanh hoa ngô.
Viên sapphire lâu đời nhất được khai thác tại Ceylon, hay Sri Lanka ngày nay. Ở đây thời cổ xưa mọi người cũng đã từng khai thác đá quý. Các chuyên gia nhận biết đá sapphire vùng Ceylon bởi độ sáng của màu xanh trung tính đến màu xanh nhẹ. Người ta cho rằng hầu hết sapphire xanh đều đến từ Úc hay từ Thái Lan.
Chất lượng của chúng phụ thuộc vào kích cỡ, màu sắc và độ trong suốt. Tuy nhiên, có nhiều viên đá quý có chất lượng tốt đáp ứng mọi tiêu chuẩn nhưng nguồn gốc cũng đóng vai trò rất quan trọng. Sapphire có giá trị cao nhất là ở vùng Kashmir, sau đó đến sapphire của Miến Điện, và đến sapphire của vùng Ceylon. Những viên đá trải qua các khâu xử lý khác nhau tạo lên giá thành khác nhau.
Phân bố : Các mỏ Lục Yên, Tân Hương, Trúc Lâu (tỉnh Yên Bái), Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An), Trường Xuân (ĐakNông), Di Linh (Lâm Đồng), Ma Lâm , Đá Bàn (Bình Thuận), Gia Kiệm (Đồng Nai)...Ruby – màu đỏ mang ý nghĩa niềm đam mê
Điều quang trọng nhất với 1 viên đá quý là màu sắc của nó. Tên “ruby” bắt nguồn từ tiếng Latin “rubens” có nghĩa màu đỏ. Màu đỏ của ruby rất riêng biệt (có một không hai): tượng trưng cho sự ấm áp và rực lửa. Hai yếu tố tạo lên đặc trưng cho màu sắc của nó: lửa và máu như tượng trưng cho sự ấm cúng và cuộc sống của loài người. Vì vậy màu đỏ của ruby không bao giờ là cũ, nó luôn là màu của đam mê, nóng bỏng, quyền lực. Không giống các loại đá quý khác, ruby có cách biểu thị tình cảm rất mạnh mẽ. Chiếc nhẫn ruby thể hiện tình yêu đầy đam mê mà con người dành cho nhau.
Đá Saphire
Đặc điểm đá Sapphire: Sapphire được gọi là đá quý của trời cũng là do rất ít nơi có thể khai thác được. Sapphire được khai thác chủ yếu ở Ấn Độ, Burma, Ceylon, Thái Lan, Việt Nam, Úc, Brazil và châu phi. Từ các mỏ đá quý, các tinh thể thô lần đầu tiên được thợ thủ công mài cắt để tạo độ lấp lánh. Thêm vào đó, khi mài cắt sapphire, người thợ phải vận dụng mọi kĩ năng bởi vì loại đá này không chỉ cứng mà còn phụ thuộc vào góc cạnh để phát huy được hết các màu khác nhau và cường độ phát màu. Vì vậy công việc của người thợ mài cắt từ các tinh thể thô phải vận dụng được hết thuận lợi của từng viên đá.
Phụ thuộc vào địa điểm được khai thác, thì đá có cường độ màu sắc và mài cắt rất phong phú, nên đá có sự khác nhau và người đeo trang sức có nhiều sự lựa chọn. Cô ấy có nên đeo viên đá màu xanh trung tính vào những ngày trời mưa để nhắc về bầu trời mùa hè đầy nắng? Hay cô ấy thích viên đá màu xanh dương nhẹ tỏa sáng trong buổi trời chiều mùa thu? Ánh sáng ban ngày làm viên sapphire tỏa sáng hơn ánh sáng nhẹ nhân tạo buổi tối. Vì vậy, dù có ở mọi góc độ ánh sáng thì viên sapphire vẫn thể hiện được vẻ đẹp riêng của nó.
Các chuyên gia và giới am hiểu quan tâm màu của sapphire ở Kashmir với ánh sáng thẫm thể hiện màu xanh dương đẹp nhất và quý giá nhất. Những viên đá quý này được tìm thấy tại vùng Kashmir vào năm 1880 sau 1 vụ nở đất 16.000 feet so với mực nước biển và được khai thác nhiều trong thời gian 8 năm, màu sắc của sapphire loại 1 bị ảnh hưởng bởi ý kiến của nhiều người. Màu sắc điển hình cho loại đá vùng Kashmir là màu xanh dương trong, đậm với ánh tím rất huyền ảo. Người ta nói rằng màu sắc này không thay đổi dưới ánh sáng nhân tạo. Nhưng màu sắc của viên đá ở Miến Điện cũng được coi là rất quý giá, nó thay đổi từ màu xanh lam xẫm hay màu xanh hoa ngô.
Viên sapphire lâu đời nhất được khai thác tại Ceylon, hay Sri Lanka ngày nay. Ở đây thời cổ xưa mọi người cũng đã từng khai thác đá quý. Các chuyên gia nhận biết đá sapphire vùng Ceylon bởi độ sáng của màu xanh trung tính đến màu xanh nhẹ. Người ta cho rằng hầu hết sapphire xanh đều đến từ Úc hay từ Thái Lan.
Chất lượng của chúng phụ thuộc vào kích cỡ, màu sắc và độ trong suốt. Tuy nhiên, có nhiều viên đá quý có chất lượng tốt đáp ứng mọi tiêu chuẩn nhưng nguồn gốc cũng đóng vai trò rất quan trọng. Sapphire có giá trị cao nhất là ở vùng Kashmir, sau đó đến sapphire của Miến Điện, và đến sapphire của vùng Ceylon. Những viên đá trải qua các khâu xử lý khác nhau tạo lên giá thành khác nhau.
Đá Spinel:
Đặc điểm:
Phân bố : Lục Yên (Yên Bái), Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An), Tây Nguyên.
Đá Topaz:
Phân bố : Thường Xuân (Thanh Hoá)
Đá Aquamarien, Beryl:
ĐáAquamarien
Dãy màu của aquamarine là từ màu xanh nước biển đậm đến màu xanh da trời nhẹ, độ phát sáng cực đẹp với ánh xanh dương nhẹ là chủ yếu. Phụ nữ trên thế giới rất yêu thích màu xanh của đá, và các nhà thiết kế trang sức cũng rất yêu thích nó bởi vì nó dễ mài cắt.
Màu xanh nhẹ khơi gợi sự cảm thông, lòng tin, sự hòa hợp và tình bạn. Tên của nó là 1 từ la tinh có 2 từ có nghĩa là “nước” và “biển”. Người ta nói rằng sức mạnh của nó được phát huy tối đa khi được đặt ở dưới nước, dưới ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên, người thời xưa cho rằng đeo đá aquamarine sẽ hứa hẹn 1 cuộc hôn nhân hạnh phúc, còn phụ nữ đeo nó thì sẽ có niềm vui và sự giàu có.
Phân bố : Thường Xuân (Thanh Hoá), Cam Ranh (Ninh Thuận)
Đá Thạch anh các loại:
Đá Thạch anh
Đá Turmaline:
Phân bố : Lục Yên (Yên Bái), Bảo Lộc (Lâm Đồng)
Đá Zircon:
Phân bố : Tây Nguyên
Đá Peridot:
Đá Peridot thô
Đá Peridot sau khi mài
Phân bố : Tây NguyênĐá Granat:
Phân bố : Nghệ An, Tây Nguyên.
Gỗ hoá đá(Petrifield wood):
Phân bố : Tây Nguyên.
Đá Opal - Canxedon:
Đá Opal hay còn gọi đá mắt mèo
Phân bố : Thủ Đức (TP.HCM), Tây Nguyên.
Đặc điểm đá Opanl : Do có hiệu ứng lóe màu sặc sỡ (màu cầu vồng) nên viên đá opal có các màu của những loại đá quý khác gộp lại. Hiệu ứng lóe màu sặc sỡ được tạo ra do nhiễu xạ bên trong đá: các cầu thể li ti nằm trong đá làm tách ánh sáng thành các màu phổ tán sắc ngời sáng, giống hệt hiện tượng màu sặc sỡ do các rãnh cực nhỏ trên các đĩa CD gây ra.
Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012
Các Loại Đá Quý
4. Diamond (Kim cương)
6. Jade (Ngọc Bích)
7. Đá Opal (Ngọc mắt mèo)
8. Đá Saphia (Sapphire)
9. Đá Mặt Trăng (Moon stone)
10. Đá Ganet
15.Đá Tsavorite
16. Đá Ruby
17. Đá Mã Não (Agate)
18. Đá Peridot
2. Carnelian
2. Bloodstone
2.Spinen 2. Onyx (Cẩm thạch)
Đang cập nhật
19. Đá Topaz
2. Bloodstone
2.Spinen 2. Onyx (Cẩm thạch)
Đang cập nhật
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
















































